tư liệu
lịch sử

Những nghịch lý trong tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông của Trung Quốc

Chính sách về Biển Đông của Trung Quốc đã tạo ra hàng loạt những mối nguy hiểm và những điều nghịch lý và mâu thuẫn trong tuyên bố chủ quyền của mình.

Từ năm 2009 khi Trung Quốc yêu cầu Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc cho lưu hành bản đồ đường chín đoạn, thế giới đã sững sờ với những hành động của Bắc Kinh tại Biển Đông. Việt Nam, Malaysia và Philippines chịu tác động lớn nhất từ các hành động của Trung Quốc, trong khi sức mạnh giữa ba nước với Trung Quốc là không tương đồng. Vậy mà Việt Nam, Malaysia và Philippines lại nắm giữ chìa khóa để giải quyết sự hỗn loạn trên Biển Đông gây ra bởi chính sách của Bắc Kinh.

Những nghịch lý trong tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông của Trung Quốc bao gồm:

Thứ nhất, trong tiến trình đàm phán Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển (UNCLOS), các nước đang phát triển đã công nhận quyền tự do hàng hải (qua các eo biển và vùng đặc quyền kinh tế) để đổi lấy sự thừa nhận vùng Đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý. Do 90% trữ lượng cá của thế giới nằm trong phạm vi 200 hải lý từ đất liền, các vùng EEZ được thừa nhận nhằm bảo đảm an ninh lương thực cho các nước đang phát triển.

Việc Trung Quốc vi phạm vùng EEZ của các nước láng giềng đã vi phạm nguyên tắc cơ bản của UNCLOS. Các quốc gia ven biển Đông Nam Á, vốn phụ thuộc rất lớn vào tài nguyên biển, đang đối mặt với nguy cơ mất chủ quyền ngay cả khi đã nhân nhượng đối với quyền tự do hàng hải.

Thứ hai, Trung Quốc từng đi đầu trong nhóm các nước đang phát triển yêu cầu bảo đảm quyền đánh bắt và khai thác xa bờ của các quốc gia ven biển. Vậy mà khi lớn mạnh hơn, Trung Quốc lại hành động trái ngược. Trong khi đó Mỹ, quốc gia từng phản đối việc tạo ra các vùng EEZ và không tham gia UNCLOS, lại luôn tôn trọng chủ quyền đối với vùng Đặc quyền của các nước láng giềng.

Thứ ba, cốt lõi của tranh chấp giữa Trung Quốc và các nước láng giềng không xuất phát từ sự thèm muốn tài nguyên mà từ tham vọng bá quyền khu vực của Bắc Kinh. Nghịch lý là Biển Đông không hẳn có nhiều tài nguyên. Chỉ có công ty dầu khí quốc gia CNOOC của Trung Quốc lên tiếng khẳng định Biển Đông có trữ lượng dầu khí lớn. Trong khi đó, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ cho rằng mặc dù Biển Đông có trữ lượng khoảng 11 tỷ thùng dầu và 190 nghìn tỷ m3 khí, các nguồn tài nguyên này chủ yếu nằm trong các khu vực không có tranh chấp, bên ngoài đường chín đoạn của Trung Quốc. Trung Quốc cũng chịu trách nhiệm chính đối với việc thuyên giảm trữ lượng cá tại Biển Đông, gây ra bởi đội tàu khai thác lớn nhất trong khu vực của Bắc Kinh.

Thứ tư, Trung Quốc thường xuyên nhấn mạnh đến sự “diễn giải” chân thực, nhất quán về luật pháp quốc tế nhằm củng cố cho chính sách Biển Đông vốn chẳng được ai ủng hộ của họ. Ai đó có thể nghĩ rằng có hai nhóm luật gia trong Bộ Ngoại giao Trung Quốc, một nhóm tìm mọi cách vận dụng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế trong khi nhóm còn lại không có kiến thức về những vấn đề cơ bản nhất liên quan đến lịch sử, tập quán và thông lệ về luật biển. Các quan chức và học giả Trung Quốc đã chịu công kích từ vô số các luật gia và chính khách quốc tế tại các kênh đối thoại chính thức cũng như học giả nhưng dường như kết cục luôn là người Trung Quốc chẳng ngấm vào tai, mặc bên ngoài nói gì thì nói.

Điều đáng nói là dường như người Trung Quốc thực sự hiểu rõ luật biển khi họ thấy có lợi ích. Trung Quốc đã đạt được các thỏa thuận với Việt Nam và Hàn Quốc tại Vịnh Bắc Bộ và Hoàng Hải liên quan đến nguồn lợi thủy sản và tuần tra chung nhằm giảm căng thẳng. Rõ ràng Trung Quốc hiểu rõ luật quốc tế khi triển khai các thỏa thuận với Nam và Hàn Quốc, song lại không áp dụng luật trên Biển Đông.

Thứ năm, Trung Quốc đã tận hưởng những quyền lợi có được nhờ UNCLOS nhưng luôn lẩn tránh trách nhiệm. Trung Quốc là nước đi đầu trong các quốc gia Á-Phi-Mỹ La tinh yêu cầu mở rộng nội thủy từ 3 lên 12 hải lý và tạo ra vùng EEZ. Theo thỏa thuận cả gói, Trung Quốc và các nước thành viên có nghĩa vụ pháp lý tuân thủ các cam kết trong UNCLOS đi kèm với các quyền lợi. Tuy nhiên, Trung Quốc đã không thực hiện các nghĩa vụ quốc tế liên quan đến vùng nội thủy và EEZ, bằng việc đặt điều kiện đối với quyền đi qua và tự do hàng hải tại các khu vực này (những điều kiện này đã bị cộng đồng quốc tế phản bác từ giai đoạn đàm phán UNCLOS). Trong khi đó, Trung Quốc vẫn tận hưởng các đặc quyền đi qua vùng EEZ của các nước khác theo quy định của UNCLOS.

Thứ sáu, ngay cả khi vận dụng luật quốc tế một cách rộng rãi thì cũng khó đồng ý với các yêu sách về lãnh hải dành cho các bãi đã từ phía Trung Quốc. Mặc dù Trung Quốc từ chối giải thích ý nghĩa tuyên bố đường chín đoạn, lập luận có cơ sở pháp lý vững chắc nhất trên thực tế có thể là: đây là đường tuyên bố chủ quyền các đảo và bãi đá tại Biển Đông. Tuy nhiên, các bãi đá ngầm không có vùng lãnh hải. Trung Quốc cũng không đưa ra bằng chứng cho tuyên bố về quyền chiếm hữu lịch sử đối với các đảo và bãi đá.

Trong khi Trung Quốc khẳng định các tư liệu lịch sử đã chứng minh các nhà hàng hải nước này đã tới thăm và đặt tên cho một số hòn đảo tại Hoàng Sa và Trường Sa, không rõ các hành trình này là hoạt động chính thức của nhà nước phong kiến Trung Hoa hay chỉ là các chuyến thám hiểm của ngư dân. Sự phát hiện một vùng lãnh thổ không đi đôi với quyền chiếm hữu hợp pháp. Điều này đã có tiền lệ khi Mỹ phải trao trả quyền chiếm hữu bán đảo Palmas cho Hà Lan vào năm 1928. Bán đảo Palmas nằm giữa Indonesia và Philippines và mặc dù Mỹ tuyên bố bán đảo được người Tây Ban Nha phát hiện trong thời kỳ cai trị Philippines, tòa án vẫn quyết định trao quyền chiếm hữu cho Hà Lan do Tây Ban Nhà và sau nay là Mỹ không thực hiện việc quản lý sau khi phát hiện. Các trường hợp tương tự bao gồm vụ kiện quần đảo Cliperton giữa Pháp và Mexico vào năm 1933, khi đó Pháp được xử thắng nhờ đã có sự hiện diện và thực hiện các hoạt động quản lý quần đảo trong một thời gian.

Thứ bảy, giả thiết Trung Quốc có được quyền sở hữu đối với mọi đảo và bãi đá tại Biển Đông (mặc dù không đưa ra được bằng chứng cụ thể nào) thì theo luật biển, Trung Quốc cũng chỉ có được vùng lãnh hải rất nhỏ từ các đảo và bãi đá. Một bãi đá nhỏ nhô lên mặt nước lúc thủy triều cạn có vùng lãnh hải rộng khoảng 45 dặm vuông. Trong khi đó, một quần đảo có người sinh sống hoặc các hoạt động kinh tế được trao vùng EEZ rộng tới 125,664 dặm vuông. Đương nhiên, nếu vùng EEZ này chồng lấn với lãnh thổ trên biển của quốc gia khác thì sẽ phải điều chỉnh.

Năm 2012, tòa án quốc tế trao cho Colombia chủ quyền đối với 2 bãi đá nhỏ kèm theo vùng lãnh hải vỏn vẹn 12 hải lý bên trong vùng EEZ của Nicaragua. Phán quyết được đưa ra trên cơ sở đường bờ biển của Colombia có độ dài không đáng kể tính theo các bãi đá, trong khi đường bờ biển của Nicaragua dài gấp 8 lần. Tiền lệ này rất có lợi cho các nước ASEAN, nhất là Việt Nam - quốc gia có đường bờ biển dài 2.200 km, lớn hơn hàng trăm lần tổng độ dài của toàn bộ các bãi đá và đảo trong vùng biển đối diện với Việt Nam. Theo công thức nêu trên của tòa án quốc tế, Việt Nam được trao vùng EEZ rộng lớn tính từ bờ biển và bất cứ nước nào chiếm hữu một hòn đảo trong vùng EEZ của Việt Nam cũng sẽ chỉ có được một vùng lãnh hải với diện tích tối thiểu.

Thứ tám, các nỗ lực miệt mài của Trung Quốc nhằm xây dựng và chiếm hữu các đảo nhân tạo tại Biển Đông không đem lại giá trị pháp lý. Theo phân tích của Đại học Middlebury, các đảo nhân tạo quy mô lớn của Trung Quốc đều được xây dựng trên cơ sở các bãi đá chìm. Trong hồ sơ kiện Trung Quốc, Philippines xác định các thực thể đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef), đá Gạc Ma (Johnson Reef) và đá Châu Viên (Cuarton Reef) là các bãi đá chìm.

Bất chấp quy mô, các đảo nhân tạo không được trao thêm chủ quyền lãnh hải so với trạng thái ban đầu. Hành động của Trung Quốc chỉ khiến các nước láng giềng ngả về phía Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản, trong khi tự làm suy yếu, thay vì củng cố, các lập luận chủ quyền trên Biển Đông. Lý do là sau khi phá vỡ nguyên trạng, Trung Quốc không thể chứng minh trạng thái tự nhiên của các thực thể. Một số phân tích đã khẳng định các thực thể trước khi được cải tạo chỉ là các bãi đá chìm song chúng ta không thể biết rõ do Trung Quốc đã thay đổi nguyên trạng.

Cuối cùng, các quốc gia ven biển trong khu vực đang đứng trước cơ hội để bảo vệ lợi ích của mình. Brunei và Indonesia không tuyên bố chủ quyền đối với bất cứ thực thể nào trên Biển Đông nhưng vùng EEZ của họ lại bị Trung Quốc vi phạm. Trong khi đó Việt Nam, Malaysia và Philippines đều có tuyên bố chủ quyền với nhiều bãi đá ngầm, bãi đá nổi và đảo trong khu vực. Các nước này sẽ hưởng lợi nhiều nhất từ việc hợp tác với nhau và thua thiệt nhất trước sự thống trị trên biển của Trung Quốc. Vậy họ cần làm gì?

Trước tiên, các nước cần rút lại các tuyên bố chủ quyền đối với các thực thể nằm trong vùng EEZ của nước láng giềng, ví dụ như Borneo, Mindanao và Palawan, qua đó thể hiện rằng họ tôn trọng vùng EEZ của các nước khác. Với các nước đang phát triển, vùng EEZ là cốt lõi của UNCLOS và các tuyên bố chủ quyền chồng lấn với vùng EEZ của nước láng giềng sẽ dẫn đến thiệt hại cho tất cả các bên. Đoàn kết có thể giúp Việt Nam, Malaysia và Philippines xây dựng lập trường thống nhất với Trung Quốc, qua đó giành lấy sự ủng hộ từ phía ASEAN cũng như EU và NATO. Làm như vậy, ba nước sẽ làm tăng cái giá phải trả với Bắc Kinh, trong khi giảm phí tổn cho các đối tác ủng hộ ngoài khu vực. Bằng việc từ bỏ các tuyên bố chủ quyền thiếu căn cứ pháp lý đối với vùng EEZ của nước bạn, các nước Đông Nam Á sẽ có được tính chính danh từ phía UNCLOS.

Theo The Diplomat

 

                                                                          

Publish: 11/3/2015 - Views: 756 - Lastest update: 11/3/2015 6:43:06 AM
Related